.
Gia đình Phật tử VDT
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 ... 14 - bottom
Lưu ý: Tất cả vấn đề về tôn giáo đều nhậy cảm, không khéo xử sự dễ sinh ra chuyện đáng tiếc. VietDitru thiết kế mục riêng để thành viên dễ dàng sinh hoạt. Thành viên phải để ý tế nhị trong cách hành xử.

Image

Mười Bốn Điều Dạy Của Phật :

1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.

2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá.

3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại.

4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tỵ.

5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.

6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu.

7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ti.

8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên sau khi ngã.

9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng.

10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khoẻ,trí tuệ.

11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm.

12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.

13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.

14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.

Trích Lời Kinh Phật

Hoà Thượng Kim Cương Tử

137290 top -
@trunghai,

Mình thấy bạn quote 2 lần với cùng một nội dung.
Bạn vui lòng chỉnh lại để Gia đình Phật tử VDT nhìn đẹp mắt bạn nhé!

Cám ơn bạn rất nhiều.
Chúc bạn thân tâm an lạc.

137295 top -
Image
Đây là hình được chụp ngay khi Lễ Quán Đảnh Quán Thế Âm vừa hoàn tất
Hình không chỉnh sửa

137329 top -
Xin phép mauxanhhyvong, anh đưa bài đó vào đây nhé, cho mọi người dễ đọc

THIỀN PHẬT GIÁO
Tâm Thái

Hỏi: Tôi nghe thấy nói nhiều về Thiền nhưng không biết các Thiền đó khác nhau thế nào và làm sao phân biệt được Thiền nào của Phật giáo?
Ðáp: Khó mà nói về tất cả loại Thiền vì danh từ này được dùng đến rất nhiều nên đã gây nhiều lẫn lộn và hiểu lầm. Ðể giới hạn cho câu chuyện quá dài chúng ta chỉ bàn về Thiền của Phật giáo. Ngoài đạo Phật cũng có nhiều đạo khác có những pháp môn gọi là Thiền hoặc có những hình thức giống như Thiền. Danh từ Thiền có khi được dùng để chỉ cho những hình thức tập trung tư tưởng hoặc để cho tâm định, không tán loạn. Trước thời đức Phật cũng đã có nhiều đạo sĩ Thiền. Ngay trước khi đức Phật đắc đạo, ngài đã có theo học một số tu sĩ Thiền và đã thành công rất nhiều, tới những mức định cao nhất của các môn phái đó như định Phi tưởng phi phi tưởng. Nhưng ngài thấy rằng những môn Thiền đó không đem lại được những điều ngài muốn là đạt được là giải thoát, giác ngộ, nên sau đó ngài đến gốc cây bồ đề ngồi Thiền trong 49 ngày và thành đạo. Vì vậy về hình thức tuy có thể gần giống nhau nhưng về mục đích thì Thiền Phật giáo khác hẳn các môn Thiền ngoại đạo mà chúng ta cần phân biệt cho kỹ. Ngoài ra hiện có nhiều môn Thiền cũng dùng những phương pháp và những danh từ của Thiền Phật giáo, nhưng khi coi kỹ mục đích của những môn Thiền đó thì thấy họ chỉ lợi dụng Phật giáo để đưa những người không hiểu vào con đường sai lầm phục vụ những lợi ích cá nhân hoặc chính trị mà thôi. Muốn biết Thiền nào là của Phật giáo thì việc trước hết là coi về hình thức: phái Thiền đó phải có quy y đức Phật Thích Ca và theo đúng con đường mà đức Phật chỉ dạy. Có những người tuy dùng những danh từ nghe như của đạo Phật nhưng nhìn kỹ thì thấy họ dẫn dắt theo ngoại đạo.


H: Vai trò của Thiền trong đạo Phật như thế nào ?
Ð: Thiền là danh từ nói tắt của Thiền na (tiếng Sanskrit: dhyana, tiếng Pali : jhana). Thiền giữ vai trò rất quan trọng trong đạo Phật. "Ngay cơ sở của Phật giáo, tất cả đều là kết quả của sự khảo sát về Thiền, và nhờ có tư duy về Thiền mà Phật giáo mới được thể nghiệm hóa... nếu Phật giáo ly khai Thiền quán thì Phật giáo sẽ mất hết sinh khí. Tóm lại, Phật giáo chân truyền trước sau vẫn còn nằm trong Thiền, tất cả sự tổ chức giáo lý đều phát xuất từ Thiền, do đó về mặt thực tu cũng như về mặt lý giải Phật pháp, nếu muốn được hoàn toàn, chúng ta không thể không phát kiến cái thỏa đáng tính tối hậu của Thiền." (trích Ðại thừa Phật giáo tư tưởng luận của Kimura Taiken, do hoà thượng Thích Quảng Ðộ dịch). Như vậy đã nói được vai trò quan trọng của Thiền trong đạo Phật.



H: Ngay trong Thiền Phật giáo cũng có nhiều môn phái khác nhau ?
Ð: Thiền sư Tôn Mật, đời Ðường, chia Thiền làm 5 loại: 1) Thiền ngoại đạo, 2) Thiền phàm phu, 3) Thiền Nguyên thủy (Tiểu thừa), 4) Thiền Ðại thừa và 5) Thiền Như Lai Tối Thượng. Phái Thiền thứ năm đó còn được gọi là Thiền Như Lai Thanh Tịnh, Thiền Tổ Sư, Thiền Ðốn Ngộ, Thiền Ðạt Ma ... mà nay thường gọi là Thiền Tông.


H: Tại sao Thiền Phật giáo lại chia làm nhiều thứ như vậy ?
Ð: Ðức Phật Thích Ca khi truyền đạo thì tùy căn cơ, trình độ mỗi người mà chỉ cho phương pháp tu tập khác nhau, cũng ví như thầy thuốc chữa bệnh thì tùy bệnh mà cho thuốc như vậy mới có kết quả tốt. Trong đạo Phật thường nói đến Tam Thừa: Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ Tát thừa. Hai Thừa trên còn được gọi là Nhị thừa, cũng còn gọi là Nguyên thủy, hoặc Nam Tông vì các nước về phía Nam như Thái Lan, Lào, Cam Bốt, Tích Lan chuyên theo thừa đó. Bồ Tát thừa thường được gọi là Ðại thừa hoặc Bắc Tông, được lan truyền tại các nước miền Bắc như Trung Hoa, Nhật Bản và phần lớn Việt Nam. Ngoài ba Thừa trên, muốn nói cho đầy đủ thì có khi còn kể thêm hai Thừa nữa để chỉ những người tu theo đạo Phật nhưng chưa thấm nhuần sâu xa được lý Ðạo: Nhân thừa và Thiên thừa. Những người tu theo Nhân thừa chỉ mới tin Ðạo, và mục đích chỉ là gây nhân lành để có quả tốt trong đời này và những đời sau ở thế gian. Những người tu theo Thiên thừa thì muốn sau này sẽ được sinh tại cõi trời để tránh sự khổ trần gian. Những người tu theo hai Thừa đó, vì còn ở trong vòng mê nên gọi là phàm phu, phàm tức là chưa phải bậc thánh chứ không có nghĩa xấu theo như ta thường dùng là thô tục, thấp kém. Pháp Thiền phàm phu vì vậy chỉ có mục đích giúp cho tâm khỏi tán loạn để giữ cho thân, miệng, ý tránh làm những điều xấu, nhưng chưa theo hoàn toàn được mục đích của đạo Phật. Như vậy thực sự Thiền Phật giáo chỉ bao gồm các Thiền Nguyên thủy, Thiền Ðại thừa và Thiền Tông.



H: Thế nào là Thiền Nguyên thủy ?
Ð: Thiền Nam Tông, tức Nguyên thủy, được chỉ dẫn trong các kinh tạng Nam Tông. Tuy nhiều phương pháp nhưng về thực hành thì có thể kể hai pháp thịnh hành nhất là: Anapanasati (niệm hơi thở) và Vipassana (quán, minh sát). Do lời giảng của hoà thượng Thích Minh Châu thì pháp môn Anapanasati được chỉ dạy trong kinh "Một pháp" nằm trong bộ kinh "Tương Ưng". Pháp này gồm việc dùng niệm theo d i hơi thở vô, hơi thở ra, thí dụ :

"Quán vô thường, tôi sẽ thở vô, quán vô thường tôi sẽ thở ra
Quán ly tham, tôi sẽ thở vô, quán ly tham tôi sẽ thở ra ... "

Pháp môn này thuộc về pháp môn Tứ Niệm Xứ, tức bốn chỗ (xứ) để an trú niệm là: thân, thọ, tâm và pháp. Theo hoà thượng Thích Minh Châu thì ích lợi của Anapanasati vừa để định tâm cho tâm khỏi giao động (thường được gọi là Chỉ hoặc Ðịnh), vừa phát triển quán sát, suy tư (gọi là Quán hoặc Huệ). Ích lợi của pháp Thiền này là làm cho "thân tâm nhẹ nhàng, phấn khởi, hoan hỷ, vui vẻ, ít bệnh, ít phiền não". Còn đường lối của Vipassana là chú niệm về ngũ uẩn, tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức, là năm thành phần về thân và tâm cấu tạo nên con người. Chú niệm vào ngũ uẩn để thấy rõ thực tướng của chúng và như vậy không còn bám níu, chạy theo đó nữa. Phương pháp "chú niệm" đây có nghĩa là quán sát một cách liên tục và chuyên chú. Ðặc điểm của phương pháp này là trong khi chú ý quán sát nhưng vẫn giữ một tâm trống lặng, tức không có khởi phân biệt, xét đoán, giải thích những điều quan sát đó. Ðể giữ cho tâm trống lặng chúng ta cần phải dẹp hết những khái niệm, thành kiến, có như vậy mới quán sát sự vật một cách trung trực được . Vipassana áp dụng một cách sâu xa kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana Sutra), thường được coi là kinh chánh yếu của Thiền Nam Tông.


H: Thiền Ðại thừa như thế nào ?
Ð: Nói Thiền Ðại thừa tức nói đến những pháp Thiền có ghi trong các kinh điển Ðại thừa. Khác với Thiền Nguyên thủy thường được tả rất rõ ràng, chi tiết, các kinh điển Ðại thừa tuy có chỉ những phương pháp tu nhưng không có hệ thống rõ ràng như hai pháp Thiền nói trên. Về phương pháp cũng vẫn là hai phương pháp chính là Chỉ và Quán. Tuy danh từ giống nhau, nhưng theo hòa thượng Thích Thiện Hoa "Trong kinh này (kinh Viên Giác) nói Chỉ, Quán không đồng lối Chỉ, Quán của Nguyên thủy, vì lối Chỉ, Quán của Nguyên thủy là phải dùng phương tiện bên ngoài để tu. Còn lối Chỉ, Quán của Ðại thừa là xứng theo bản thể của Chân tâm mà Chỉ và Quán". Trong kinh Viên Giác, đức Phật còn chỉ thêm pháp thứ ba là Thiền Na, pháp này không theo hẳn Chỉ hoặc Quán mà y theo tâm Viên giác thanh tịnh (một danh từ chỉ Phật tánh) mà tu. Kinh này nói rõ phương tiện tu tuy có nhiều nhưng không ngoài ba pháp đó, và có thể phối hợp ba pháp đó, bằng cách tu riêng một pháp, hoặc hai pháp, hoặc cả ba pháp cùng lúc, tất cả thành 25 pháp tu. Nhiều kinh lại kể những pháp Quán riêng biệt: Kinh Lăng Nghiêm kể kinh nghiệm của nhiều vị Bồ tát về những đề tài quán khác nhau, như quán về tứ đại (đất, nước, gió, lửa), 18 giới (6 căn, 6 trần, 6 thức). Mỗi Bồ tát quán theo một trong những đề tài đó và đều đắc đạo. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói :"A Nan, tất cả những người tu tâm trong thế gian, không nhờ Thiền Na thì không có trí tuệ." (quyển 9, đoạn 2). Tu theo Bồ Tát hạnh, là tu theo Lục Ðộ Ba La Mật, mà Thiền Ðịnh và Trí Huệ là hai điều căn bản và quan trọng nhất. Cho nên nói tu Ðại thừa, tức Bồ tát thừa, mà không tu Thiền là một điều thiếu sót đáng kể.



H: Còn Thiền Tông khác với hai môn Thiền trên như thế nào ?
Ð: Thiền Tông được khởi đầu từ hội Linh Sơn, khi đức Phật truyền cho ngài Ma Ha Ca Diếp:"Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi". Tổ Ma Ha Ca Diếp là vị Tổ thứ nhất Thiền Tông. Cho đến Tổ thứ 28 là Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma (?-532) thì ngài qua Trung Hoa để truyền đạo nên thường được coi là Tổ thứ nhất tại Trung Hoa. Ðặc điểm của Thiền Tông nằm gọn trong bốn câu của Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma : Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật. (được dịch là: Chẳng lập văn tự, Truyền ngoài giáo lý, Chỉ thẳng tâm người, Thấy tánh thành Phật). Ðặc điểm của Thiền Tông chính là điểm "thấy Tánh", có hiểu được điều này mới hiểu được mục đích và phương pháp của Thiền Tông. Chữ Tánh đây không có nghĩa là tánh tình mà ta thường dùng, cũng không phải là tánh chất. Việc định nghĩa chữ này là một việc không nên làm và thực ra là không thể làm được, tuy vậy mà vẫn cần làm vì đó là trọng tâm của Thiền Tông. Nói một cách đơn giản thì Tánh đây là bản thể của chúng ta, của vũ trụ, cái bản thể dó không sinh, không diệt, không thay đổi như phần thể chất và phần tinh thần của chúng ta. Nghe thật là dản dị nhưng ngày nào chúng ta hiểu được điều đó thì được coi là người đã ngộ đạo, để đi đến con đường thành Phật.

H: Như vậy Tánh là gì, nếu nói "thấy Tánh thành Phật" mà không chỉ rõ được Tánh là gì thì làm sao mà tu ? Tại sao Thiền Tông chỉ nói tới thấy Tánh mà không nói tu hành thế nào?
Ð: Trong kinh điển Ðại thừa đức Phật nhiều lần đã nói tới Tánh, nhưng tùy trường hợp đã dùng những danh từ khác nhau như: Phật Tánh, Chân Tâm, Chân Như, Bồ Ðề, Tri Kiến Phật, Niết Bàn, Pháp Giới, Tâm Ðịa, Như Như, Tự Tâm Hiện Lượng ... Muốn diễn tả được cái tuyệt đối, ngoài vòng đối đãi, phân biệt, so sánh thì thật là khó. Những danh từ đặt ra chỉ là tạm thời, tùy trường hợp mà giảng giải thôi, chứ không có cách nào để diễn tả cho rõ được. Thiền Tông cũng vậy, có khác là dùng những danh từ rất thông thường, hoặc là chỉ bằng cách yên lặng, không nói gì, giống như ông Duy Ma Cật đã trả lời Bồ tát Văn Thù Sư Lợi khi được hỏi về pháp môn Bất Nhị. Thiền Tông không dùng những danh từ cao xa, huyền bí để tránh những khái niệm, lý luận khó hiểu hoặc không thực tế. Vì vậy về danh từ để chỉ cái bản thể đó thì Thiền Tông dùng những danh từ rất bình thường như: bát không đáy, thùng sơn lủng đáy, đờn không giây, cây không rễ ... Thiền Tông giúp chúng ta nhìn thẳng vào đời sống hiện tại, nhìn thẳng vào tâm mình để tự tìm thấy chân lý. Những lời Phật dạy chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, chúng ta nương theo ngón tay đó mà nhìn lên thì mới thấy mặt trăng, chứ chỉ nhìn ngón tay mà cho đó là mặt trăng thì chẳng bao giờ thành đạo. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật nói Phật Thích Ca, cũng như tất cả chư Phật khác, ra đời chỉ có mục đích quan trọng là chỉ cho chúng ta thấy mỗi người đều có Tri kiến Phật (cái thấy biết giác ngộ). Thiền Tông nhận rõ và lấy điều đó làm cứu cánh cho đường lối tu hành. Thiền Tông chỉ tin ở Tánh, tức Chân Tâm, ngoài cái đó ra không có gì khác để đưa đến con đường giác ngộ. Trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật nói rõ muốn đạt quả vô vi thì phải dùng nhân vô vi, nhân nào đi với quả đó, không thể tu theo pháp hữu vi mà mong đạt đạo vô vi. Cũng theo đúng đường lối đó nên tổ Hoàng Bá (?-850) đã chỉ dậy :" người học đạo đời nay chẳng thấy tâm thể này (chân tâm), cứ ở nơi tâm sanh tâm (vọng tâm), hướng bên ngoài cầu Phật, chấp theo tướng để tu hành, đều là pháp tà, chẳng phải đạo bồ đề".


H: Nhiều pháp Thiền như vậy thì biết nên theo pháp nào ?
Ð: Trong đạo Phật khó có thể nói pháp nào hay hơn pháp nào. Mỗi người có một khả năng khác nhau nên cần biết pháp nào thích hợp với người nào. Nếu muốn tu tập cho có kết quả thì cần phải biết rõ khả năng, căn cơ của mình trước, và sau đó cần tìm hiểu đạo cho kỹ thì mới có thể chọn lựa con đường thích hợp. Muốn tìm học và hiểu thì cần có các thầy, bạn, kinh điển, sách vở, băng thâu thanh ... Một vị thầy chân chánh phải là một vị giảng rõ cho người học trò biết những pháp tu của đạo để người đó hiểu rõ và cần tìm biết khả năng của người đó trước khi hướng dẫn họ hoặc để họ tự quyết định. Nhiều người đã tu theo một pháp môn rồi thì gặp ai cũng quả quyết là phải theo pháp môn đó mới là đúng, chứ không chịu xem xét kỹ người đó khả năng, thích hợp ra sao. Kết quả là sau một thời gian người đó thấy không hợp và chán nản hoặc bỏ cuộc. Vì vậy việc giảng giải cũng như việc tìm hiểu các pháp môn là điều cần thiết để giúp chúng ta tránh những người lợi dụng danh nghĩa đạo Phật, danh nghĩa Thiền để đưa chúng ta vào đường sai lầm.

137340 top -
Chùa Vĩnh Nghiêm

Image

Chùa Vĩnh Nghiêm toạ lạc tại số 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa là một trong những trục đường giao thông chính của thành phố. Đi từ xa đến, người ta đã trông thấy ngọn tháp 7 tầng cao 40 mét.

Chùa được khởi công năm 1964 và hoàn thành vào năm 1971 do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng vẽ kiểu.

Một cửa tam quan lớn dẫn vào sân chùa. Ngôi chùa có một tầng lầu và một tầng trệt. tầng trệt có hai phần: phần ngoài, dưới sân thượng, cao 3,20m; phần trong, dưới phật điện cao 4,20m. tầng trệt được chia là nhà thờ tổ, giảng đường, văn phòng, thư viện, lớp học, phòng học, phòng tăng v.v…

Từ dưới sân có ba cầu thang rộng dẫn lên tầng trên. Ở đây có một sân thượng rộng khoảng 10 mét. Phía tay phải có một gác chuông.

Từ sân thượng lên tiếp mấy bậc thềm nữa là tới Bái điện. Bái điện là một tòa nguy nga dài 35m, rộng 22m và cao 15m. Các cột, rui mè và mái ngói đều được đúc bằng bê-tông cốt sắt. Bàn thờ Phật được thiết lập ở Bửu điện: chính giữa thờ Phật Thích Ca, hai bên có Văn Thù Bồ Tát (bên trái Phật Thích Ca ) và Phổ Hiền Bồ Tát (bên phải), một vị chủ về đường trí tuệ, một vị chủ về đường hạnh nguyện. Những công trình chạm khắc gỗ ở đây có bao lam tứ linh, bao lam cửu long và đặc biệt là có các phù điêu trên các hương án chạm các ngôi chùa danh tiếng ở trong nước và một số nước Châu Á.

Ở hàng hiên lối vào Chính điện, mỗi bên có một pho tượng Kim Cương khá lớn.

Toàn thể Phật điện gồm ba lớp: Bái Điện, Bản Điện và Địa Tạng Đường kiến trúc theo kiểu chữ công.

Các góc mái chùa đều uốn cong theo kiểu chùa miền Bắc: mái trước chồng diêm. Chính giữa đỉnh nóc có Bánh xe pháp luân và các góc có hình đầu phượng.

Năm 1982, chùa xây thêm Bảo Tháp Xá Lợi Cộng Đồng.

Chùa Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa mới được xây dựng gần đây nhưng đáng được kể là một công trình kiến trúc Phật giáo độc đáo của Thành phố.

137465 top -
Hào quang Đức Phật


Ðức Phật với thiên nhĩ thông, từ xa nghe tiếng đứa bé niệm danh hiệu của Ngài cầu cứu, bèn lập tức dùng thần thông đến chỗ đồng hoang, phóng ánh sáng hào quang màu trắng để bảo vệ đứa bé. Quỷ vương thấy đức Phật quang lâm nhưng không hề cảm thấy sợ hãi.
Ở thành Xá Vệ có một vị trưởng lão tên là Tài Ðức. Ông có một đứa con trai, mới lên năm tuổi đã thường được ông dạy cho niệm câu "Nam Mô Phật". Ðứa bé rất khôn ngoan nên học xong là biết niệm "Nam Mô Phật" ngay, do đó được cha rất mực cưng chìu.

Có một con quỷ chúa ở ngoài đồng hoang, bị đói khát bức bách, thình lình đến nhà của trưởng giả, thấy một đứa bé bèn bắt cóc bỏ chạy, đem về chỗ đồng hoang của mình tính xé xác ra ăn thịt ngay, nhưng đứa bé niệm lên câu "Nam Mô Phật", nên quỷ vương đột nhiên bị tê liệt, không cách nào động tới đứa bé được, nhưng từ cặp mắt hung ác sáng như điện của quỷ vương bốc lên lửa dữ, đứa bé sợ quá, miệng niệm "Nam Mô Phật" không ngừng.

Cứ như thế trong một thời gian dài, quỷ vương không cách nào làm gì thằng bé như ý mình muốn, nên càng lúc càng nóng nảy và giận dữ.

Ðức Phật với thiên nhĩ thông, từ xa nghe tiếng đứa bé niệm danh hiệu của Ngài cầu cứu, bèn lập tức dùng thần thông đến chỗ đồng hoang, phóng ánh sáng hào quang màu trắng để bảo vệ đứa bé. Quỷ vương thấy đức Phật quang lâm nhưng không hề cảm thấy sợ hãi. Hào quang màu trắng của đức Phật càng làm tăng thêm ngọn lửa sân khuể trong lòng hắn, khiến hắn nổi xung thiên lồng lộn lên, nhấc một tảng đá lớn toan ném tới đức Phật. Nhưng đức Phật đã nhập Hỏa Quang Tam muội, dùng lửa đốt sạch đồng hoang, ngọn lửa mãnh liệt ngùn ngụt cháy chiếu thấu suốt cả quả đất, và trong ánh sáng ấy lại có hóa hiện vô số ức đức hóa Phật. Thế mà quỷ vương ác độc và khó độ vẫn không hề tàm quý, vẫn không chịu hàng phục. Lúc ấy, có một vị thần Kim Cang thấy tình trạng như thế, vô cùng tức giận, một tay cầm chày kim cương, một tay múa một cây kiếm sắc lớn, hướng tới quỷ vương phác cử chỉ chém xuống đầu hắn. Quỷ vương sợ quá, ôm lấy đứa bé, quỳ mọp xuống trước mặt đức Phật mà nói :

- Thế Tôn ! Xin Ngài từ bi cứu mạng con với !

Ðức Phật như người cha lành, dầu gặp người ác hơn thế nữa nhưng nếu đã biết chân thành sám hối, Ngài cũng sẵn sàng tha thứ. Thần Kim Cang bèn ra lệnh quỷ vương :

- Ngươi còn chờ gì mà chưa quy y Phật, Pháp, Tăng ? Nếu chưa quy hàng, ta sẽ đập ngươi tan nát như bụi, hiểu chưa ?

Quỷ Vương sợ sệt chắp tay thưa với đức Phật :

- Thế Tôn ! Từ trước đến giờ con ăn thịt uống máu người, bây giờ Ngài dạy con từ nay về sau không được giết người nữa thì con lấy gì mà ăn đây ?

- Quỷ vương, đừng lo chuyện ấy. Nếu ngươi giữ được giới bất sát, thì đương nhiên ta sẽ dặn đệ tử của ta bố thí thức ăn cho ngươi từ giờ cho đến lúc pháp của ta diệt tận. Dựa vào lực Phật, ngươi sẽ được no đủ.

Quỷ vương nghe thế rất vui mừng, lập tức thọ nhận tam quy ngũ giới, rồi hướng về thần Kim Cang nói một cách biết ơn :

- Nhờ Ðại Ðức chỉ giáo cho con nên con mới được uống nước cam lồ, được Pháp vị vô thượng, bỏ đường mê lầm mà quay về nẻo chính.

Ðứa bé được cứu thoát, trưởng giả Tài Ðức ôm con xin xuất gia theo Phật. Từ đó ông tu hành rất tinh tiến, tín tâm kiên cố thêm.

Từ trước đến nay, tốt hơn hết là do tự mình phát tâm mà tin tưởng tu hành. Nhưng chúng sinh ngu si, phải có áp lực từ bên ngoài mới chịu hối lỗi mà tín tu, đó gọi là "nghịch tăng thượng duyên".

137490 top -
@ xin chào các ACE trong gia đình PHẬT TỬ
ACE mình sinh hoạt với nhau trong ngôi nhà VDT kô phân biệt tôn giáo đó là 1 trong những ước mơ và hy vọng của nhiều người. hãy cùng nhau xiết chặt tình thân ái, cùng nhau bước trên con đường hướng thiện
thân chào

137607 top -
@ Anh Danny,

Anh làm em thấy xấu hổ quá. Thật sự em không biết anh nhờ anh Vũ nên mới liều mở topic này, chứ không thì...

137692 top -
ỨNG XỬ CÁCH NÀO?

Ngay cả khi cuộc đời chúng ta tựu trung khá hạnh phúc và thành công, ta vẫn thấy mình phải đối phó với bao nhiêu vấn đề đòi hỏi ta chú ý, cản trở sự an ổn tâm trí vốn làm cho đời sống được vui vẻ.

Có những lúc các vấn đề tràn ngập ta, nhất là khi ta không thể đối mặt với những lỗi lầm thất bại do chính mình gây nên. Khi ấy ta có thể có những cảm xúc bất an nặng nề tưởng chừng không thể chịu đựng.

Thỉnh thoảng chúng ta có thể linh cảm sắp gặp rắc rối và có thể xoay xở tránh điều tệ nhất xảy ra. Những lúc khác ta lại thấy mình bỗng dưng rơi vào tình thế khó khăn, mà ta cố phấn đấu để thoát, như nhờ bạn bẻ giúp đỡ. Hoặc ta cũng có thể cố thoát khỏi toàn thể vấn đề bằng cách cố tìm lối tránh né quanh co hơn là giải quyết một cách trực tiếp.

Những người gặp may đôi khi có thể thoát khỏi khó khăn rắc rối nhờ “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, song phần đông chúng ta không có được quyền lựa chọn ấy. Đôi khi ta gặp những rắc rối mà ta không thể tránh được.

Dường như không có cách nào để đề phòng rắc rối khỏi xảy ra. Đã đành rằng có nhiều việc xảy ra trên đời vượt ngoài tầm ta kiểm soát, nhưng ngay cả tình huống gay cấn nhất xảy đến cũng không thành vấn đề nếu ta không bị lôi cuốn theo những phản ứng thuộc cảm xúc (như giận dữ, lo buồn – ND).

Thông thường, vấn đề có ra là do phản ứng nội tâm ta trước một tình huống. Khi không tự biết mình một cách rõ ràng, thì chúng ta giống như những người xa lạ đối với các giác quan, tư tưởng, và cảm giác của mình, và thật khó mà kiểm soát những phản ứng của mình. Thế là những vấn đề cứ tái diễn trong đời ta bởi vì ta đã không học cách ứng xử với chúng một cách hữu hiệu.

Chúng ta có thể quay sang người khác nhờ họ giúp đỡ, dẫn ta qua khỏi cơn hiểm nghèo. Nhưng dù bạn bè có tốt bụng đến đâu họ cũng không có được những giải đáp mà ta cần đến.

Chúng ta nên tập nương tựa chính mình để ứng xử với những rắc rối mình gặp, bằng cách để ý cái kiểu phản ứng của ta, và ý thức những động lực nào trong tâm có thể dẫn đến rắc rối. Khi nhận ra được phẩm chất của cảm xúc trong ta, thấy rõ hậu quả của những hành động ta, ta mới khám phá rằng chính cái sự thiếu tỉnh thức của mình đã góp phần tạo ra vấn đề.

Bài tập: Ứng xử với rắc rối

Tập nhận ra cách mình ứng phó với những khó khăn là bước đầu để tăng trưởng sự tỉnh thức. Hãy nhớ lại vài bao lần những lúc bạn bị đảo lộn bởi một tình huống mà bạn hầu như không chịu nổi. Hãy lần lượt xét từng sự cố: Nó khởi lên ra sao? Ai khác là người trong cuộc? Bạn đã làm gì? Làm thế nào mà cuối cùng bạn ra khỏi ngõ bí? Nỗi khó khăn ấy bạn có gặp lại không?
Những câu hỏi này giúp bạn gẫm lại và thấy được nguyên nhân và rắc rối xảy ra, để nghĩ đến những cách thức mới đối phó với những tình huống tương tự. Khi khởi sự thấy rõ cách phản ứng của bạn trước những vấn đề, thì bạn có thể làm cố vấn cho chính mình và biết cách tránh để cho những rắc rối ấy xảy ra.

Làm việc với năng lượng cảm xúc

Có ý thức về cách phản ứng của ta vào những lúc gặp khó khăn sẽ giúp cho ta điều chỉnh lại năng lượng cảm xúc mình. Khi buồn khổ thất vọng, xuống tinh thần, bạn nên ngồi yên lại mà ngắm nhìn nỗi đau đớn bạn đang trải nghiệm. Đừng cố giải thích, phê phán cảm giác của mình, chỉ xem nó nằm ở đâu và quan sát nó thật kỹ.

Sự bối rối căng thẳng, xuống tinh thần, tất cả đều chứa một nguồn năng lượng mà ta có thể sử dụng để giúp ta hoặc để hại ta. Khi có thể bình tĩnh đối diện với những khó khăn mình gặp phải mà không cố thoát ra, không cố dằn ép, tác động gì trên những cảm xúc của mình thì ta có thể thấy một cái gì ta chưa từng thấy trước kia. Ta có thể thấy rất rõ chỉ có một điều đơn giản là ta không muốn có nỗi đau đớn này nữa. Khi ấy ta sẽ khám phá trong ta cái động lực muốn thay đổi những thói quen đã đưa ta đến những rắc rối này.

Ta có thể sử dụng năng lượng của những cảm xúc mình để đối phó một cách khéo léo với những rắc rối, khám phá một lần nữa sự tương tác giữa tâm trí và cảm giác, khiến cho năng lượng trong ta tuôn chảy theo những chiều hướng tích cực hơn. Những cảm xúc trong ta kỳ thực cũng chỉ là năng lượng, chúng chỉ trở thành nỗi đau đớn khi chúng ta bám víu vào chúng và đồng hóa chúng với những gì có thái độ xấu xa tiêu cực. Nhưng ta có thể chuyển năng lượng này thành những cảm giác tích cực vì rốt cuộc chính ta là kẻ quyết định những phản ứng kia. Tùy ta chọn lựa: Ta có thể ở lại trong những cảm xúc tiêu cực, hoặc vận dụng năng lượng dành cho những cảm xúc ấy để ứng xử một cách lành mạnh hơn với những rắc rối của ta.

Bài tập: Thâm nhập vấn đề

Khi gặp những trở ngại trong nội tâm, hoặc khó khăn trong công việc hay trong tương quan với người, hãy dành vài phút để nhắm mắt ngồi yên lặng. Rồi từ từ mở mắt, cố quán tưởng vần đề trước mặt, cảm nhận nó một cách trọn vẹn. Rồi lại từ từ nhắm mắt lần nữa. Đi sâu vào cảm giác của bạn cho đến khi nó tan biến, bạn sẽ thấy trở lại thoải mái thư giãn.

Khi ấy nên chầm chậm mở mắt ra, không nhìn một vật gì đặc biệt, hãy quán tưởng các khía cạnh của vấn đề mà có lẽ bạn đã bỏ sót. Lại nhắm mắt, chìm trong những cảm giác ấy cho đến khi chúng tan loãng. Bạn cũng sẽ thấy mình hoàn toàn đổi mới.

Lập lại cách làm như trên vài lần nữa, cho đến khi cảm giác bực bội của bạn hoàn toàn biến mất. Khi xong xuôi, hãy từ từ mở mắt ra, thở đều và nhẹ. Hãy để cho hơi thở, sự tỉnh thức, ánh sáng bạn thấy xung quanh hòa lẫn vào nhau và trở nên quân bình. Khi ấy bạn sẽ cảm thấy một sự trong sáng cởi mở. Hãy duy trì, khai triển cảm thức ấy bằng cách tiếp tục thở nhẹ, làm quân bình hơi vào và hơi ra. Thân bạn khi ấy trở nên tỉnh táo, tâm ý tập trung, và sự tỉnh giác lan tràn.

Hãy nhìn ngày hôm nay như thể là ngày đầu tiên trong cuộc đời bạn mới bắt đầu. Đừng đưa vào cuộc đời mới ấy một sự phản kháng nào cả. Bạn đang bắt đầu lại mọi sự, không có vấn đề, trở ngại nào cả trong quá khứ lẫn tương lai. Trong cuộc đời mới ấy, mọi kinh nghiệm đều sống động với một phẩm chất phong phú. Bạn hoàn toàn bắt liên lạc được với bất cứ gì xảy đến vào mỗi lúc, với một ý thức rõ ràng, tỉnh giác trước mọi sự đang diễn tiến trong bạn và xung quanh bạn.

Tài nguyên nội tâm

Tính sáng sủa mà ta có được lúc vận dụng năng lượng mình một cách tích cực không những chỉ nâng ta lên khỏi những khó khăn hiện tại mà còn dạy cho ta hiểu biết về chính mình, chuyển hóa những phản ứng tai hại thành ra những kênh dẫn đường cho lối ứng xử có hiệu quả. Một khi đã hiểu được những thói quen xấu của mình, ta sẽ thêm tin tưởng vào khả năng ta để tự đối phó với những vấn đề gặp phải. Khi nội tâm ta sáng suốt, quân bình, thì ta có được khả năng sử dụng tài nguyên năng lượng mình để đối phó với mọi sự xảy đến, không cần người khác giúp đỡ.

Khả năng ấy sẽ ở lại trong ta giúp ta chấp nhận và đối mặt bất cứ việc gì khởi lên trong đời mình. Ta phát triển những tài năng quan trọng như làm thế nào để cảm nhận những cảm giác của mình một cách chính xác, và làm thế nào để ứng xử với chúng một cách cấp thời. Thấy được sự cải tiến mà việc này mang lại cho cuộc đời ta, cho những quan hệ của ta với người khác và cho công việc của ta, là một thỏa mãn lớn lao. Ta dần dần tăng trưởng ý thức tự trọng giá trị của mình, chính điều này có thể giảm thiểu những nỗi lo âu sợ hãi thường đưa đến rối ren cho ta.

Khi có được ý thức mạnh mẽ rằng mình có thể đo lường mức độ cơn bão tố thì ta có thể nhìn xa hơn hiện tại và có một tổng quan về đời mình. Ta thấy mỗi ngày sẽ mang lại một kinh nghiệm mới. Những rắc rối không còn có vẻ nan giải bất tận như trước, vì ta biết mình có thể đối phó bất cứ vấn đề gì khởi lên, ta sẽ có sự phấn chấn để vượt qua chúng một cách tài tình, bảo đảm. Khi toàn thể con người của ta đã có được thái độ tự túc tự cường thì ta sẽ thấy đời mình ít gặp rắc rối hơn. Mặc dù vẫn còn những áp lực từ bên ngoài để đối phó, chúng ta đã có thể kiểm soát cách phản ứng của mình và vận dụng năng lượng mình theo chiều hướng lành mạnh.

Khám phá sức mạnh và phẩm cách

Chúng ta có được tiềm năng dồi dào khôn xiết để sống và hành động tích cực. Tự thâm tâm ta vẫn có một năng lực và phẩm giá có thể nâng đỡ ta, đem lại sức mạnh cho cuộc đời ta và gợi cảm hứng cho những người xung quanh ta. Khi có được niềm tin phát xuất từ sức mạnh bên trong ta, thì toàn thể môi trường tự có được quân bình, ánh sáng, và trở nên vui tươi. Sự chuyển hóa này có được là nhờ ta biết cách ứng xử với những xung đột mà tất cả chúng ta không ai tránh khỏi. Nhờ khám phá ra sức mạnh này trong chính mình, ta có thêm khả năng để tìm ra ý nghĩa và sự hài lòng trong cuộc sống.

Thực sự là tất cả điều đó đều tùy thuộc nơi ta. Nhờ mở lòng ra với những cơ hội tốt do những rắc rối mang lại cho mình để tăng trưởng sự tự tri, ta có thể thay đổi tính chất cuộc đời mình và giúp những quanh ta cũng thay đổi đời họ. Chúng ta vẫn biết sẽ luôn luôn còn có những khó khăn phải đương đầu, những vấn đề phải giải quyết, song nhờ biết nhận trách nhiệm, bây giờ ta có thể ứng xử với chúng. Nhờ làm việc trên chính mình, nhờ biết mình rõ hơn, rồi nhờ san sẻ sự tiến bộ của ta với người khác, mà ta tạo được một nền tảng sẽ chuyển hóa phẩm chất đời mình và đóng góp cho niềm an lạc của những người chung quanh.

Thích Nữ Trí Hải (dịch)

137694 top -
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ độ trì cho tất cả các anh chị em vietditru sau thời gian chờ đợi mỏi mòn được mau sớm đòan tụ với gia đình.
Cầu xin Quan Thế Âm phù hộ cho tất cả các anh chị em có thư mời phỏng vấn,khám sức khỏe và phỏng vấn được suông sẽ và thành công.
Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát.

137794 top -
@ admin và Ban Biên tập, Ban Trang trí

Em cám ơn bác admin và các anh trong Ban biên tập, Ban Trang trí đã sửa sang và trang hoàng cho ngôi nhà Gia đình Phật tử thật đẹp và trang nghiêm.

Nhân đây em cũng xin cám ơn anh Vũ, chị Phượng, anh trunghai, anh phithuyenapollo, anh quoctn, em vinhlong và các anh chị khác đã hỗ trợ và giúp đỡ em trong việc tìm và chọn lọc những bài hay để chia sẻ cùng mọi người.

137817 top -
Image

Niềm Tin



Tin đời và tin người
Khi ta đặt niềm tin vào bất cứ một đối tượng nào tức là ta đã công nhận sự có mặt của đối tượng đó là một sự có mặt mầu nhiệm, có thể đem lại niềm vui sống cho một hay nhiều cá thể trong xã hội. Dù giữa ta và đối tượng đó không có mối liên hệ mật thiết nào, dù đối tượng đó không trực tiếp đem tới cho ta một quyền lợi thiết thực nào, nhưng một khi ta gửi đi một niềm tin là ta đã bồi dưỡng thêm cho mình khả năng chấp nhận, lòng quý trọng và tính khiêm hạ. Đó là những chất liệu quý giá giúp ta tồn tại một cách hòa điệu và đầy tình thương với cuộc đời, đứng vững giữa cuộc đời.

Càng tin vào nhiều đối tượng thì ta càng bớt đi khuynh hướng xem mình là cái tôi biệt lập, thấy được đời sống của mình luôn chịu ảnh hưởng qua lại với mọi người và mọi loài. Tại vì trong niềm tin tự nó đã gạt bỏ đi tính nghi ngờ, kỳ thị và thù hận rồi. Niềm tin sẽ tiếp sức cho ta vượt qua những đoạn đường đời chông chênh, sẽ giúp ta mau chóng tươi tỉnh khi ta trở thành kẻ chiến bại với những bóng ma trong lòng mình. Niềm tin chính là lẽ sống của con người, không có niềm tin con người sẽ cằn cỗi và khô héo.

Nhiều khi niềm tin trong ta cũng bị thương tổn vì những đổi thay quá khắc nghiệt của cuộc đời. Mới có đó rồi lại mất, mới thành đó rồi lại bại, mới đến đó rồi lại đi… Nhưng một chiếc lá lìa cành thì không có nghĩa là chiếc lá đó đã chết, chiếc lá chỉ ngưng biểu hiện ở hình dáng đó một thời gian, để rồi vài tháng sau chiếc lá sẽ trở thành chất mùn trong đất, tiếp tục nuôi dưỡng thân cây, cùng với cây để cho ra những chiếc lá xanh mơn mởn trong mùa xuân tới. Sự thật chiếc lá không bao giờ chết, nhưng chiếc lá cũng cần nghỉ ngơi sau một thời gian sống hết mình với cuộc đời. Ta hãy mỉm cười và chúc mừng chiếc lá bước vào cuộc hành trình mới với hình thức mới và trách nhiệm mới.

Mọi biến động xảy ra trong trời đất này đều có lý do và nguyên tắc của nó, ta không thể muốn mọi thứ tùy thuận theo ý mình, ta không thể muốn cuộc đời đứng yên mãi đó để cho ta nương tựa. Nhưng nếu không có vô thường thì tuyết không thể tan, mặt trời không thể mọc, nụ hoa không thể nở, em bé không thể lớn thành thiếu nữ và khổ đau sẽ không bao giờ chấm dứt được. Mọi thứ nếu đứng yên mãi thì đâu còn là một cõi sống nữa. Huống chi những đổi thay cần thiết ấy sẽ làm cho ta trở nên ý thức sâu sắc hơn về những giá trị hạnh phúc mà mình đang có, sẽ làm cho khả năng chịu đựng trong ta lớn mạnh.

Khi ta gửi cho đời một niềm tin thì đời sẽ gửi lại cho ta một niềm tin. Cuộc đời sẽ mầu nhiệm biết bao nhiêu nếu ai nấy đều nhìn nhau bằng ánh mắt tin tưởng, ai cũng có khả năng thấy được cái hay cái đẹp của nhau dù nó đang hiện hữu hay đang lẩn khuất ở dạng này dạng khác. Niềm tin luôn dẫn tới tình thương và nuôi dưỡng cho cây tình thương trổ hoa kết trái. Thương yêu mà thiếu tin tưởng nhau, lúc nào cũng sợ người kia sẽ phản bội hay gây tổn hại cho mình thì không còn là thương yêu nữa. Người kia dù có tuyệt vời như thế nào thì cũng sẽ bị thiêu rụi bởi năng lượng thiếu tin tưởng của ta. Cho nên ta hãy luôn tự hỏi mình có đủ đức tin nơi người mình thương chưa, chứ đừng quá lo lắng họ có xứng đáng với mình hay không. Người kia chưa xứng đáng có thể là do niềm tin mà ta dành cho họ còn quá yếu ớt. Người ta không thể sống hay hơn khi những người sống chung quanh mình không xem mình là một đối tượng đáng tin cậy.

Có thể trong quá khứ ta đã từng bị lừa dối, phụ bạc nên niềm tin trong ta đã bị đông cứng lại như một tảng băng. Đó là một chứng bệnh trầm cảm chứ không phải là lẽ đương nhiên. Một khi ta đã bám chặt kinh nghiệm ấy rồi thì nhìn đâu ta cũng thấy toàn là những kẻ muốn lợi dụng hay hãm hại mình. Điều này thật nguy hiểm, vì lúc nào ta cũng sống trong căng thẳng và sợ hãi. Trong khi cuộc đời có kẻ vầy người khác, dù kẻ ấy có xấu xa thì cũng tuân theo nguyên tắc vô thường nên cũng sẽ có lúc được thay đổi. Nhưng có khi kẻ ấy đã thay đổi rồi mà ta vẫn nhìn họ bằng niềm tin cũ, thì chắc chắn ta sẽ đánh mất họ.

Ta hay có thói quen mỗi khi tin tưởng vào đối tượng nào là ta quẳng vào đối tượng đó những trách nhiệm nặng nề. Nghĩa là đối tượng muốn được ta tin tưởng phải thật sự xứng đáng, phải đem tới quyền lợi cho ta, phải không được đổi thay mà làm tổn hại đến sự nương tựa của ta. Cho nên ta đã biến đối tượng tin tưởng của ta thành nơi dựa dẫm an toàn cho ta. Niềm tin mà có mang theo quyền lợi ích kỷ là một niềm tin không trong sáng, sớm muộn gì nó cũng sẽ bị xói mòn, lụn bại. Tại sao ta phải cần người kia làm cái gì đó cho ta thì ta mới tin tưởng họ, niềm tin có cần nhiều điều kiện mới có thể đứng vững không? Ta tin nhau chỉ vì ta cần nhau. Cần nhau đôi khi chỉ đơn giản vì sự có mặt mầu nhiệm của nhau thôi.

Bây giờ người trẻ hay bày tỏ thái độ ngưỡng mộ nhân vật mà mình yêu thích bằng cách xem đó là “thần tượng” của mình. Họ đến với thần tượng là để tạo thêm sự hứng khởi cho niềm đam mê cháy bỏng của mình, chứ không phải để noi theo tấm gương quý giá của người ấy. Vì vậy khi niềm tin đó đạt tới mức mãnh liệt thì họ sẵn sàng bỏ qua hết những lầm lỗi của thần tượng, thậm chí còn hăng hái bênh vực cho những hành động lầm lỗi ấy mà quên đi lẽ thật hay nguyên tắc đạo đức căn bản của con người. Niềm tin kiểu đó là một thứ cuồng tín, trong đó, thần tượng có thể làm hư tín đồ và tín đồ cũng sẽ làm hư thần tượng.

Đến với một tôn giáo hay chủ thuyết cũng vậy. Người ta luôn có đức tin rất lớn nơi giáo lý mà họ cho đó là những hiểu biết chuẩn xác của những bậc hiền triết, nên ít khi nào người ta dám đặt ra câu hỏi những điều ấy có đích thực là chân lý đúng đắn không, làm sao để áp dụng chúng vào cuộc sống vì có quá nhiều sự khác biệt, hay tại sao ta đã thực hành hết lòng rồi mà vẫn không có sự chuyển hóa tốt đẹp nào, tình trạng vẫn y như cũ. Nếu có khúc mắc như vậy thì ta sẽ bị xem là một kẻ không ngoan đạo, kẻ còn bị bóng tối u mê chế ngự linh hồn, nên ta chỉ biết nhắm mắt đi theo. Để niềm tin đi trước quá xa như vậy mà ta không kịp kiểm chứng hay không dám kiểm chứng thì đó là thái độ mê tín. Vì niềm tin mê muội ta đã vô tình bóp chết niềm tin nơi chính mình. Một khi sự sống của mình để cho kẻ khác điều khiển, dù kẻ ấy là bậc thánh, thì đó không còn là sự sống nữa.


Tin mình
Cho nên ta hãy cẩn thận khi đặt xuống một niềm tin, coi chừng mỗi lần đặt niềm tin xuống là mỗi lần cuộc đời ta chuyển sang một khúc quanh khác, một lối rẽ mà ta hoàn toàn bị động. Nhưng nếu ta quá khó khăn để đặt xuống một niềm tin là ta đã có vấn đề, và đó cũng là một trở ngại lớn trong cuộc sống. Vấn đề là ta đã có đức tin nơi chính bản thân mình chưa? Khi ta đã tìm thấy giá trị hạnh phúc trong chính mình, ta đã khơi dậy được sức mạnh trong tâm hồn để sẵn sàng ứng phó mọi hoàn cảnh, thì dù đối tượng kia có như thế nào đi chăng nữa cũng không làm cho niềm tin của ta bị dội lại hay hao mòn.

Để có niềm tự tin thì ta phải thành công nơi chính mình, phải thấy được cái hay cái đẹp trong lòng mình. Điều này phải cần trải qua một quá trình luyện tập khá công phu, với những phương pháp khá thực tiễn, chứ không phải muốn mà được. Ta phải thực tập làm sao để lúc nào cũng giữ được phong thái điềm tĩnh, lúc nào cũng sẵn nụ cười tươi mát trên môi. Ta phải có khả năng làm chủ một cơn cảm xúc, nhận diện và chuyển hóa từng hiện tượng tâm lý bất thiện khi nó trào lên trên ý thức. Ta phải sống sâu sắc trong từng giây phút của đời sống, phải biết sử dụng nó một cách lợi ích cho mình và cho người khác. Ta phải tập buông bỏ lòng tự hào để sẵn sàng hòa nhập mình vào tất cả.

Nếu ta có đời sống nội tâm vững vàng như vậy, thì có đặt niềm tin xuống hay không cũng không còn là vấn đề quan trọng nữa. Hãy cứ tùy thuận hoàn cảnh thích hợp mà ta quyết định, để ta và đối tượng kia khi tin tưởng nhau rồi thì cùng nâng đỡ nhau bay lên một lượt. Niềm tin có khả năng chắp cánh rất mạnh, nếu ta biết dùng nó trong một tâm hồn trong sáng. Càng tin tưởng nhau thì ta lại càng hiểu nhau hơn, càng hiểu nhau thì ta lại càng thương yêu nhau. Cho nên đức tin có hiểu biết luôn dẫn đầu trong mọi thành công.

Tuy nhiên trong thực tế đời sống không phải lúc nào ta cũng đủ chín chắn để đặt xuống một niềm tin, và đủ hiểu biết để đặt niềm tin ở mức độ nào. Nếu sự khôn ngoan không đủ soi sáng thì ta hãy sử dụng tới bản lĩnh của mình. Ta hãy thử một phen cho niềm tin đi trước rồi từ từ ta dõi bước theo sau. Đôi lúc ta cũng nên liều lĩnh một chút để tạo sự sáng tạo và trưởng thành cho đối phương bằng cách cho họ thấy được ta đã thật sự tin họ. Nhưng có khi ta cũng cần thu gọn năng lượng tin tưởng lại một chút để cho đối phương thấy được biên giới của đôi bên mà họ không rơi vào sự ỷ lại hay thiếu nhiệt tâm phấn đấu. Sử dụng niềm tin một cách uyển chuyển như vậy thì ta mới không bị niềm tin biến ta thành kẻ dựa dẫm khi niềm tin thành công và thành kẻ tuyệt vọng khi niềm tin thất bại.

Tin vào chính mình là cội nguồn sinh ra niềm tin vững vàng nơi kẻ khác. Chỉ khi nào ta tin rằng ai ai cũng có khả năng hiểu biết và thương yêu như mình, vì vậy mà ta quý trọng kẻ khác như quý trọng chính bản thân mình, thì đó là đức tin lớn nhất và cao quý nhất của con người. Nếu tin vào chính mình để thấy mình cao hơn kẻ khác, sẵn sàng khinh thường hay đóng bít niềm tin thì đó vẫn là một thứ cuồng tín. Năng lượng cuồng tín đó sẽ hủy diệt tâm từ của ta và xóa sạch những nguồn năng lượng an lành mà đất trời luôn dành tặng cho ta. Mỗi ngày ta hãy gửi niềm tin cho thật nhiều đối tượng, dù đó là cỏ cây hay đất đá, thì ta sẽ càng cắm rễ vào sự sống. Cuộc đời dù có ra sao, tình đời dù có như thế nào thì ta vẫn vững tin nơi giá trị chân thật của nó luôn bất biến trong trái tim hiểu biết của con người.

Đừng buồn nhìn xơ xác
Đời cần chút đổi thay
Hoa xưa rồi thắm lại
Vườn cũ ngát hương bay.


(Minh Niệm)

137873 top -
Tình Đạo Bạn
Tuệ Tấn (Thiền thất Viên Thông)
trucduong8379 (pháp Danh:Chơn Tường Phú)
Như trẻ lại
Bạn đồng tu hội ngộ
Tâm sự vui buồn
Kỷ miệm thuở xa xưa

Năm tháng cách chia
Hội ngộ thốt đôi lời
Phút tạm biệt
Ngõ hầu len nỗi nhớ

Trên trời cao
Sao lúc tỏ lúc mờ
trụ bao la
Có lúc khuyết hao gầy

Suối đầu nguồn
Còn có khi khô cạn
Tình bạn đạo chúng ta
Muôn thuở ánh trăng đầy

137881 top -
Quy Y Tam Bảo
(Hoà thượng Thích Thiện Hoa)



A.Định danh và giải nghĩa

Quy y nghĩa là gì?
Quy là trở về; Y là nương tựa, Quy Y là trở về nương tựa nơi mà mình đã vì si mê, phóng lãng đã lìa bỏ ra đi, như đứa trẻ khờ dại đã rời bỏ cha mẹ để ra đi hoang phá, bây giờ biết sự dại khờ do kinh nghiệm khổ đau, quay trở về nương tựa dưới bóng hạnh phúc và yêu thương của cha mẹ. Chữ Quy Y nguyên dịch nghĩa chữ Nam Mô của Phạn ngữ. Quy Y cũng có nghĩa là kính vâng hay phục tùng.


Tam Bảo nghĩa là gì?
Tam Bảo là ba ngôi quý báu: Phật, Pháp, Tăng.

Ở thế gian, vàng bạc, ngọc ngà và danh vọng là quý báu. Nhưng sự thật, vàng bạc và danh vọng đâu có cứu được con người khỏi khổ *sống, già, bệnh, chết, mà lắm khi lại làm cho con người thêm khổ nữa! Còn Phật, Pháp, Tăng thì có đủ năng lực dắt dẫn con người ra khỏi những cái khổ nói trên. Bởi thế, người đời mới tôn sùng Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi quý báu.

a. Phật:
Chữ Phật do chữ Phạn Bouddha phiên âm ra. Người Tàu dịch là Giác giả; người Pháp dịch là L’luminé. Ba chữ ấy đều cùng một nghĩa là: bực đã giác ngộ sáng suốt hoàn toàn về ba phương diện: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.

b. Pháp:
Pháp là do chữ Phạn Dharma mà dịch nghĩa ra. Pháp là phương pháp tu hành mà Phật đã phát huy ra để diệt trừ mọi mê muội, khổ đau và chứng được quả Phật. Ba tạng kinh điển gọi chung là Pháp.

c) Tăng:
Tăng hay Tăng Già là do chữ Phạn Sangha mà phiên âm ra; Tàu dịch là: hòa hợp chúng, nghĩa là một đoàn thể tu hành từ 4 người sắp lên, cùng nhau sống chung một chỗ, đồng giữ giới luật của Phật, đồng chia sớt cho nhau một cách hòa thuận những gì đã thâu nhận được, từ vật chất cho đến tinh thần.

Quy y Tam Bảo là thế nào?
Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa ba ngôi quý báu: Phật, Pháp, Tăng.

Tại sao lại quy y Phật?
Vì Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, từ bi vô lượng, phước huệ vô biên, đức hạnh viên mãn; Vì Phật là kẻ dẫn đường vĩ đại nhất, đã có cái kinh nghiệm bản thân thoát ra ngoài vòng sanh tử để chứng Đạo.

Tại sao quy y Pháp?
Vì chỉ có phương pháp của Phật là đầy đủ công năng để đưa chúng ta qua khỏi bể khổ, đến bờ giải thoát.

Tại sao lại quy y Tăng?
Vì Tăng là người đã hy sinh gia đình, tiền của, danh vọng...để tình nghuyện thay Phật dắt dẫn chúng sanh trên đường đạo.


B. Ba bực Tam Bảo

Tam Bảo có ba bực
* Đồng thể Tam Bảo.
* Xuất thế gian Tam Bảo.
* Thế gian trụ trì Tam Bảo.

Đồng thể Tam Bảo:
a) Đồng thể Phật bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt.

b) Đồng thể Pháp bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một pháp tánh từ bi, bình đẳng.

c) Đồng thể Tăng bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh thanh tịnh, sự, lý hòa hợp.


Xuất thế gian Tam Bảo:
a) Xuất thế gian Phật bảo, là chỉ cho đức Phật Thích Ca Mâu ni, đức A Di Đà, chư Phật trong mười phương ba đời, đã tự giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của thế gian.

b) Xuất thế gian Pháp bảo, là chỉ cho chánh pháp của Phật, có công năng làm cho chúng sanh thoát khỏi sự ràng buộc của thế gian, như Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ v.v...

c) Xuất thế gian Tăng bảo, là chỉ cho các vị Thánh Tăng đã thoát ra ngoài sự ràng buộc của thế gian như đức Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Ca Diếp, A Nan v.v...


Thế gian trụ trì Tam Bảo
a) Thế gian trụ trì Phật bảo, là chỉ cho xá lợi của Phật, tượng Phật đúc bằng kim khí chạm trổ bằng danh mộc, tô bằng đất, đắp bằng xi măng, thêu bằng vải, hay vẽ trên giấy.
b) Thế gian trụ trì Pháp bảo, là chỉ cho ba tạng giáo điển: Kinh, Luật, Luận, viết hay in trên giấy, trên vải, *trên là buôn v.v...

c) Thế gian trụ trì Tăng bảo, là chỉ các vị Tỳ Kheo tu hành chơn chánh, đạo đức trong sạch, giới luật trang nghiêm trong hiện tại.


C. Sự Quy Y Tam Bảo

Sau khi đã hiểu rõ thế nào là quy y Tam Bảo, tất nhiên phải thực hành sự hiểu biết ấy. Thực hành Tam Quy bằng sự tướng cung kính, vâng theo Tam Bảo, như thế gọi là sự quy y Tam Bảo.

1. Sự quy y Phật:
Hằng ngày chúng ta phải nhớ tưởng luôn đến Phật, niệm danh hiệu Ngài, chiêm ngưỡng tượng Ngài, chí tâm thật ý lễ bái để tỏ lòng sùng kính Ngài, và nguyện suốt đời theo bước chân Ngài, ấy là sự quy y Phật.

2. Sự quy y Pháp:
Hằng ngày tụng đọc kinh, luật, luận trên giấy trắng mực đen; sớm hôm hai thời công phu, tìm hiểu nghĩa lý thâm huyền của Pháp bảo càng tốt, không biết nghĩa tụng suông, cũng không phải là vô ích. Khi tụng đọc Kinh điển, tâm trí chúng ta không nghĩ đến những ý nghĩa xằng bậy, không nhớ tưởng những việc không hay, không bàn mưu tính kế để lợi kỷ, tổn nhơn. Chúng ta trừ bỏ được sáng suốt, an lành, thanh tịnh.

3. Sự quy y Tăng:
Thế gian thường nói: "Trọng Phật, phải kỉnh Tăng". Cho nên, nếu chúng ta thành tâm thờ Phật bao nhiêu thì chúng ta phải thật dạ kỉnh Tăng bấy nhiêu. Người thực hành sự quy y Tăng, hễ thấy người đầu tròn áo vuông, có chân chính tu hành, giữ gìn giới luật, thì liền kính nể, quý trọng xem như đó là vị đại diện của Đức Phật. Làm như thế là sự quy y Tăng.

Tóm lại, thờ Phật cốt, Phật tượng, tụng kinh, giữ giới nghiên cứu Phật Pháp, kính trọng Tăng Già chân chính, đó chính là sự quy y Tam Bảo, hay nói nôm na là theo đạo Phật.


D. Lý Quy Y Tam Bảo

Lý là bên trong. Lý quy y Tam Bảo nghĩa là quy y Tam Bảo trong tâm chúng ta. Nếu chúng ta chỉ thực hành sự quy y, chỉ giong ruổi theo Tam Bảo bên ngoài, mà quên lý quy y, nghĩa là quên Tam Bảo bên trong tâm chúng ta, thì chúng ta chưa thực hành đúng nghĩa Tam Quy. Thật thế, bên trong tâm chúng ta cũng có đủ Tam Bảo. Chúng ta cần thực hành lý quy y, hay Tam Tự Quy Y: tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng.

1. Tự quy y Phật:
Tự nghĩa là mình đối với tự tâm mình. Tự quy y Phật là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt của tâm mình. Vâng, mỗi người đều có Phật tánh, và đều có thể thành Phật. Đó là lời Phật Thích Ca đã dạy. Nhưng Phật tánh ấy bị mê lầm, vọng tưởng che lấp. Vọng tưởng như mây mờ, Phật tánh như trăng. Mây mờ có thể che khuất, chứ không thể tiêu diệt được trăng sáng.

Phật tánh của chúng ta dù bị vọng tưởng, vô minh che lấp sâu kín đến đâu cũng vẫn thường còn. Vậy thì sao chúng ta lại bỏ quên Phật tánh của chúng ta, mà chỉ chạy theo cầu khẩn Phật bên ngoài; như đứa "cùng tử" có viên ngọc quý, cha mẹ đã giấu sẵn trong chéo áo mà nó không biết, lại đi xin ăn cùng khắp mọi nơi!

2. Tự quy y Pháp:
Tự quy y Pháp là vâng theo Pháp tánh của mình. Trong tâm có đủ pháp Từ Bi, Trí Tuệ, Bình Đẳng, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn...Chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và hành động theo chúng, tuân theo chúng; như thế là tự quy y Pháp.

3. Tự quy y Tăng:
Tự quy y Tăng là vâng theo thầy trong tâm mình. Thầy trong tâm mình là đức tánh thanh tịnh hòa hợp của mình, cũng như Tăng già là hiện thân của sự hòa hợp thanh tịnh bên ngoài. Bấy lâu vì mình bị mê muội, không nhận thấy được ông thầy trong tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy, mình nhận thấy được ông thầy thanh tịnh ấy, thì mình phải quy y thầy của mình trước đã chứ!

Nói tóm lại, mình phải nương tựa, quay về với Phật trong tâm là tánh sáng suốt; với Pháp của mình là các đức tánh Từ Bi, Hỷ Xả v.v...; với Tăng của mình là sự hòa hợp, thanh tịnh của bản thân. Như thế là Lý quy y Tam Bảo.


E. Nghi thức Quy Y

Sau khi chúng ta đã hiểu rõ Sự và Lý quy y rồi, chúng ta cần phải biết qua nghi thức của lễ quy y.

1. Trước tiên phải gội rửa thân tâm cho trong sạch.
Quy y là buổi lễ quan trọng nhất trên đường tu tập của chúng ta. Nó là cuộc khởi hành để đi đến mục đích giải thoát, vì thế chúng ta không thể xem thường, cử hành một cách bừa bãi được.

Khi muốn quy y, chúng ta phải y phục chỉnh tề, sắm khay lễ thỉnh chư Tăng đến trai đường, đảnh lễ và cầu xin chư Tăng rủ lòng từ bi truyền trao quy giới cho mình.

Trước ngày hành lễ, thân tâm chúng ta phải được gội rửa trong sạch. Ta tắm rửa sạch sẽ ăn mặc chỉnh tề. Đó là về Thân; còn về Tâm thì ta phải ba phen sám hối, cho ba nghiệp được thanh tịnh. Nhờ sự tẩy gội cả trong lẫn ngoài ấy, ta mới xứng đáng đón nhận pháp thanh tịnh cao quý của Tam Bảo.

2. Phát nguyện.
Đến giờ quy y, chúng ta phải quỳ xuống; theo lời hướng dẫn của chư Tăng, chí thành phát nguyện:

Đệ tử xin suốt đời quy y Phật.
Đệ tử xin suốt đời quy y Pháp.
Đệ tử xin suốt đời quy y Tăng.


Sau khi phát nguyện Tam Quy rồi, người phát nguyện tin chắc rằng mình đã gieo hạt giống giải thoát, thế nào cũng sẽ gặt được kết quả tốt là thoát ly ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì thế, người quy y liền nói tiếp ba lần:

Đệ tử quy y Phật rồi, khỏi đọa địa ngục.
Đệ tử quy y Pháp rồi, khỏi đọa ngạ quỷ.
Đệ tử quy y Tăng rồi, khỏi đọa súc sanh.


Thế là trọn vẹn Tam Quy và Tam Khiết.
Để bảo tồn lý tưởng cao cả của mình và giữ vững đức tin trên đường Đạo, người quy y tự nguyện một cách mạnh mẽ và thành khẩn:

Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y thiên, thần, quỷ, vật.
Đệ tử quy y Pháp, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo, tà giáo.
Đệ tử quy y Tăng, nguyện trọn đời không quy y tổn hữu, ác đảng.


Như thế là lễ quy y đã hoàn tất. Người tín đồ chỉ còn việc làm theo đúng những lời mình đã phát nguyện và đã tuyên thệ trước Tam Bảo.


G. Lợi ích của Quy Y Tam Bảo

1. Khỏi đi lạc đường đời vào nơi tăm tối.
Sự quy y chính là một cách bám víu vào cái bè Tam Bảo mà Phật đã chế ra để cứu vớt những kẻ sắp chết đuối trong biển đời là toàn thể chúng ta.

2. Khi đã phát nguyện quy y, mình dễ giữ đúng lời đã hứa, vì có sự chứng minh của Chư Phật và Chúng Tăng.
Có người nói: "Tôi tôn sùng đức Phật, vì biết Ngài là một Đấng sáng suốt hoàn toàn; tôi trọng Pháp vì biết Pháp Phật có đủ năng lực đưa người đến giải thoát; tôi kỉnh Tăng vì biết đấy là những vị đại diện của Phật. Biết như thế cũng đủ, cần gì phải làm lễ phát nguyện quy y?".

Nói như thế là chưa đủ giá trị về phương diện tâm lý của lời hứa, lời thề trước mặt người khác. Khi chúng ta đã hứa với ai một điều gì, mà nuốt lời hứa, thì tâm hồn chúng ta bức rức, hối hận không an. Đã hứa tất có bổn phận làm trọn lời hứa, nếu thất lời hứa, tất sẽ tự khinh ta. Nhất là khi lời hứa, lời nguyện ấy lại cử hành trong một khung cảnh trang nghiêm trước điện Phật, trên có sự chứng tri của chư Phật, dưới có sự chứng tri của chư Tăng, chung quanh có sự hộ niệm của thân bằng quyến thuộc; phát nguyện trong khung cảnh ấy, tất nhiên chúng ta khó lòng mà trái lời nguyện, hay xao lãng nó được.

Vậy đã biết Tam Bảo là quý, tất nhiên ta phải quy y Tam Bảo và cử hành lễ quy y một cách trang nghiêm mới được.


Kết luận
Khuyên tín đồ nên quy y cả sự lẫn lý và tinh tiến trong sự quy y.

Chúng ta đã thấy; là Phật tử thì phải quy y. Quy y phải đủ Sự và Lý. Không nên hoàn toàn ỷ lại bên ngoài mà xao lãng bên trong. Cũng như không nên hoàn toàn tự tôn tự trọng riêng mình mà khinh thị bên ngoài. Muốn quy y thì trước tiên phải long trọng làm lễ quy y để đánh dấu bước đi đầu tiên của mình trên đường giải thoát. Lễ ấy như là lễ tiễn đưa một người ra đi nhận một nhiệm vụ mới. Nhưng một khi đã đặt chân lên đường, thì người ấy phải giong đuổi, quyết tiến mau cho đến đích, chứ không phải chần chờ, quay đi lộn lại một chỗ, hay rẻ qua một ngả khác. Đã phát nguyện quy y mà không theo dấu chân của đức Phật đã để lại, không soi vào gương sáng của đức Phật đã nêu cao, không theo giáo pháp mà rèn luyện tâm tánh; không giữ giới luật, không vâng lời nhắc nhở của chư Tăng, như thế là tự lừa dối mình và lừa dối người khác, và cái tai hại lại càng lớn lao hơn cả không quy y.

Trái lại, nếu chúng ta quy y và thực hành đúng như lời đã phát nguyện thì con đường giải thoát dù xa, cũng sẽ có ngày thấy đích.

Xin hãy nhớ luôn lời nói cuối cùng của Phật:

"Hãy tinh tấn lên để giải thoát !"


(Thư viện Hoa Sen)

138508 top -
@quoctn,

Cám ơn bạn đã đọc.

138537 top -
Gia đình Phật tử VDT
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 ... 14


PayPal về email:
thuquy.vietditru@gmail.com


Chi phiếu gửi về:
Jimmy Ton
4369 46 St.
San Diego, CA 92115



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM



Ý kiến về Quỹ VietDitru

Image
Image




hello